Luật
Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng số 19/2023/QH15 đã được Quốc hội nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV thông qua ngày 20 tháng 6 năm 2023,
có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.
Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng số 19/2023/QH15 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV thông qua ngày 20 tháng 6 năm 2023, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.
Với 7 chương, 80
điều, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 (Luật 2023) quy định về
nguyên tắc, chính sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; quyền và nghĩa vụ của
người tiêu dùng; trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với người tiêu
dùng; hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của cơ quan, tổ chức; giải
quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh; quản lý
nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Luật 2023 đã quy định
rõ hơn về Quyền của người tiêu dùng. Theo đó, người tiêu
dùng được đảm bảo an toàn tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài
sản, bảo vệ thông tin, quyền, lợi ích hợp pháp khi tham gia giao dịch, sử dụng
sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ do tổ chức, cá nhân kinh doanh cung cấp. một
số nội dung chính của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng như sau:
1. Nguyên tắc
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Được quy định tại
Điều 4 Luật bảo vệ người tiêu dung như sau:
Bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng là trách nhiệm chung của Nhà nước và toàn xã hội.
Quyền lợi của người
tiêu dùng được tôn trọng và bảo vệ theo quy định của pháp luật.
Bảo vệ quyền
lợi của người tiêu dùng phải được thực hiện kịp thời, công bằng, minh bạch,
đúng pháp luật.
Hoạt động bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền,
lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và tổ chức,
cá nhân khác.
2. Nhà nước bảo vệ
người tiêu dung thông qua các chính sách:
- Tạo điều kiện thuận
lợi để tổ chức, cá nhân chủ động tham gia vào việc bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng.
- Khuyến khích tổ
chức, cá nhân ứng dụng, phát triển công nghệ tiên tiến để sản xuất hàng hóa,
cung ứng dịch vụ an toàn, bảo đảm chất lượng.
- Triển khai thường
xuyên, đồng bộ các biện pháp quản lý, giám sát việc tuân thủ pháp luật của tổ
chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.
- Huy động mọi nguồn
lực nhằm tăng đầu tư cơ sở vật chất, phát triển nhân lực cho cơ quan, tổ chức
thực hiện công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; thường xuyên tăng cường tư
vấn, hỗ trợ, tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn kiến thức cho người tiêu dùng.
- Đẩy mạnh hội nhập,
mở rộng hợp tác quốc tế, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm quản lý trong việc bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng.
(Theo quy định tại
Điều 5 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng)
3. Bảo vệ thông tin
của người tiêu dùng
Điều 6 Luật bảo vệ
người tiêu dùng quy định: Người tiêu dùng được bảo đảm an toàn, bí mật thông
tin của mình khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng hóa, dịch vụ, trừ trường hợp
cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu thì việc thu thập, sử dụng, chuyển giao
thông tin của người tiêu dùng phải được thông báo rõ ràng, công khai trước khi
thực hiện với người tiêu dùng về mục đích hoạt động thu thập, sử dụng thông tin
của người tiêu dùng và phải được người tiêu dùng đồng ý; Bảo đảm an toàn, chính
xác, đầy đủ khi thu thập, sử dụng, chuyển giao thông tin của người tiêu dùng và
phải tự mình hoặc có biện pháp để người tiêu dùng cập nhật, điều chỉnh thông
tin khi phát hiện thấy thông tin đó không chính xác; Chỉ được chuyển giao thông
tin của người tiêu dùng cho bên thứ ba khi có sự đồng ý của người tiêu dùng,
trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng trong giao dịch với cá nhân hoạt động thương mại độc lập,
thường xuyên, không phải đăng ký kinh doanh
Chính phủ quy định
chi tiết việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch với cá nhân hoạt
động thương mại độc lập, thường xuyên, không phải đăng ký kinh doanh. Căn cứ
vào quy định của Luật, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn, ban quản lý chợ,
khu thương mại triển khai thực hiện các biện pháp cụ thể để bảo đảm chất lượng,
số lượng, an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng khi mua, sử dụng hàng hóa, dịch
vụ của cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên, không phải đăng ký
kinh doanh.
5. Quyền của người
tiêu dùng
Được quy định tại
Điều 8 Luật bảo vệ người tiêu dùng như sau:
- Được bảo đảm an
toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác khi tham gia
giao dịch, sử dụng hàng hóa, dịch vụ do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa,
dịch vụ cung cấp.
- Được cung cấp thông
tin chính xác, đầy đủ về tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; nội
dung giao dịch hàng hóa, dịch vụ; nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa; được cung cấp
hóa đơn, chứng từ, tài liệu liên quan đến giao dịch và thông tin cần thiết khác
về hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng đã mua, sử dụng.
- Lựa chọn hàng hóa,
dịch vụ, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo nhu cầu, điều kiện
thực tế của mình; quyết định tham gia hoặc không tham gia giao dịch và các nội
dung thỏa thuận khi tham gia giao dịch với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng
hóa, dịch vụ.
- Góp ý kiến với tổ
chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ về giá cả, chất lượng hàng hóa, dịch
vụ, phong cách phục vụ, phương thức giao dịch và nội dung khác liên quan đến
giao dịch giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ.
- Tham gia xây dựng
và thực thi chính sách, pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
- Yêu cầu bồi thường
thiệt hại khi hàng hóa, dịch vụ không đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất
lượng, số lượng, tính năng, công dụng, giá cả hoặc nội dung khác mà tổ chức, cá
nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đã công bố, niêm yết, quảng cáo hoặc cam kết.
- Khiếu nại, tố cáo,
khởi kiện hoặc đề nghị tổ chức xã hội khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình
theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Được tư vấn, hỗ
trợ, hướng dẫn kiến thức về tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ.
6. Người tiêu dùng có
các nghĩa vụ sau:
- Thứ nhất, kiểm tra hàng hóa trước khi nhận; lựa
chọn tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, không làm tổn
hại đến môi trường, trái với thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội, không gây
nguy hại đến tính mạng, sức khỏe của mình và của người khác; thực hiện chính
xác, đầy đủ hướng dẫn sử dụng hàng hóa, dịch vụ.
- Thứ hai, thông tin cho cơ quan nhà nước,
tổ chức, cá nhân có liên quan khi phát hiện hàng hóa, dịch vụ lưu hành trên thị
trường không bảo đảm an toàn, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến tính
mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng; hành vi của tổ chức, cá nhân kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tiêu
dùng.
7. Các hành vi bị cấm
Thứ nhất, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng
hóa, dịch vụ lừa dối hoặc gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng thông qua hoạt động
quảng cáo hoặc che giấu, cung cấp thông tin không đầy đủ, sai lệch, không chính
xác về một trong các nội dung sau đây:
- Hàng hóa, dịch vụ
mà tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp;
- Uy tín, khả năng
kinh doanh, khả năng cung cấp hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh
hàng hóa, dịch vụ;
- Nội dung, đặc điểm
giao dịch giữa người tiêu dùng với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ.
Thứ hai, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa,
dịch vụ quấy rối người tiêu dùng thông qua tiếp thị hàng hóa, dịch vụ trái với
ý muốn của người tiêu dùng từ 02 lần trở lên hoặc có hành vi khác gây cản trở,
ảnh hưởng đến công việc, sinh hoạt bình thường của người tiêu dùng.
Thứ ba, Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng
hóa, dịch vụ ép buộc người tiêu dùng thông qua việc thực hiện một trong các
hành vi sau đây:
- Dùng vũ lực, đe dọa
dùng vũ lực hoặc các biện pháp khác gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh
dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của người tiêu dùng;
- Lợi dụng hoàn cảnh
khó khăn của người tiêu dùng hoặc lợi dụng thiên tai, dịch bệnh để ép buộc giao
dịch.
Thứ tư, Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng
hóa, dịch vụ thực hiện hoạt động xúc tiến thương mại, đề nghị giao dịch trực
tiếp với đối tượng là người không có năng lực hành vi dân sự hoặc người mất
năng lực hành vi dân sự.
Thứ năm, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng
hóa, dịch vụ yêu cầu người tiêu dùng thanh toán hàng hóa, dịch vụ đã cung cấp
mà không có thỏa thuận trước với người tiêu dùng.
Thứ sáu, người tiêu dùng, tổ chức xã hội
tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng
hóa, dịch vụ lợi dụng việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng để xâm phạm lợi ích
của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác.
Thứ bảy, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng
hóa, dịch vụ lợi dụng hoàn cảnh khó khăn của người tiêu dùng hoặc lợi dụng
thiên tai, dịch bệnh để cung cấp hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm chất lượng.
Thứ tám, Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng
hóa, dịch vụ không bảo đảm chất lượng gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe,
tài sản của người tiêu dùng.
8. Xử lý vi phạm pháp
luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Cá nhân, tổ
chức vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì tùy theo tính
chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách
nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp
luật.
Cá nhân lợi
dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu
trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của
pháp luật.
9. Trách nhiệm của tổ chức, cá
nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa,
dịch vụ cho người tiêu dùng
- Ghi nhãn hàng hóa
theo quy định của pháp luật.
- Niêm yết công khai
giá hàng hóa, dịch vụ tại địa điểm kinh doanh, văn phòng dịch vụ.
- Cảnh báo khả năng
hàng hóa, dịch vụ có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tính mạng, tài sản của người
tiêu dùng và các biện pháp phòng ngừa.
- Cung cấp thông tin
về khả năng cung ứng linh kiện, phụ kiện thay thế của hàng hóa.
- Cung cấp hướng dẫn sử
dụng; điều kiện, thời hạn, địa điểm, thủ tục bảo hành trong trường hợp hàng
hóa, dịch vụ có bảo hành.
- Thông báo chính
xác, đầy đủ cho người tiêu dùng về hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung
trước khi giao dịch.
10. Trách
nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật
Khi phát hiện hàng
hóa có khuyết tật, tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa có trách
nhiệm:
- Kịp thời tiến hành
mọi biện pháp cần thiết để ngừng việc cung cấp hàng hóa có khuyết tật trên thị
trường;
- Thông báo công khai
về hàng hóa có khuyết tật và việc thu hồi hàng hóa đó ít nhất 05 số liên tiếp
trên báo ngày hoặc 05 ngày liên tiếp trên đài phát thanh, truyền hình tại địa
phương mà hàng hóa đó được lưu thông.
- Thực hiện việc thu
hồi hàng hóa có khuyết tật đúng nội dung đã thông báo công khai và chịu các chi
phí phát sinh trong quá trình thu hồi;
- Báo cáo kết quả cho
cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cấp tỉnh nơi thực
hiện thu hồi hàng hóa có khuyết tật sau khi hoàn thành việc thu hồi; trường hợp
việc thu hồi hàng hóa có khuyết tật được tiến hành trên địa bàn từ hai tỉnh trở
lên thì báo cáo kết quả cho cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng ở trung ương.
11. Trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra
Theo quy định tại
Điều 23 Luật bảo vệ môi trường quy định như sau:
Tổ chức, cá
nhân kinh doanh hàng hóa có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp
hàng hóa có khuyết tật do mình cung cấp gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe,
tài sản của người tiêu dùng, kể cả khi tổ chức, cá nhân đó không biết hoặc không
có lỗi trong việc phát sinh khuyết tật, trừ trường hợp quy định tại Điều 24 của
Luật này là không thể phát hiện được với trình độ khoa học, kỹ thuật tại thời
điểm tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa cung cấp cho người tiêu dùng thì được
miễn trách nhiệm.
Việc bồi thường thiệt
hại được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự.
12. Yêu cầu
cơ quan quản lý nhà nước bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Khi phát hiện
hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của tổ chức, cá
nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, lợi
ích của nhiều người tiêu dùng, lợi ích công cộng thì người tiêu dùng, tổ chức
xã hội có quyền yêu cầu trực tiếp hoặc bằng văn bản đến cơ quan quản lý nhà
nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cấp huyện nơi thực hiện giao dịch giải
quyết đồng thời người tiêu dùng, tổ chức xã hội có nghĩa vụ cung cấp thông tin,
bằng chứng có liên quan đến hành vi vi phạm của tổ chức, cá nhân kinh doanh
hàng hóa, dịch vụ.
13. Trách
nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Chính phủ thống
nhất quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Bộ Công Thương
chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng.
Bộ, cơ quan
ngang Bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với
Bộ Công Thương thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Ủy ban nhân dân
các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước
về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại địa phương.
14. Phương thức giải quyết tranh
chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thông
qua các hoạt động:
Các bên cùng thương
lượng; Hòa giải; Trọng tài hoặc Tòa án.
Không được
thương lượng, hòa giải trong trường hợp tranh chấp gây thiệt hại đến lợi ích
của Nhà nước, lợi ích của nhiều người tiêu dùng, lợi ích công cộng.
15. Trách nhiệm của Ủy ban nhân
dân các cấp
Ban hành theo
thẩm quyền hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực
hiện văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại địa
phương.
Quản lý hoạt
động về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của tổ chức xã hội, tổ chức hòa giải
tại địa phương.
Tuyên truyền,
phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; tư vấn, hỗ
trợ và nâng cao nhận thức về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại địa phương.
Thanh tra, kiểm
tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng theo thẩm quyền.